Đại thọ của lão phu nhân khiến cả Hầu phủ rộn ràng hẳn lên. Đèn l.ồ.ng đỏ treo cao, lụa là rực rỡ, tiệc tùng linh đình, tiếng nhạc kịch vang lên rộn rã, khắp nơi đều tràn ngập không khí vui tươi.
Mấy ngày nay tôi cũng chẳng được ngơi tay, vừa giúp cô mẫu lo liệu việc vặt, vừa tranh thủ sang thỉnh an, trò chuyện cùng lão phu nhân. Bà đối xử với tôi khá hiền hòa, nhưng lời nói lúc nào cũng mang ý dò xét:
"Lệnh Hương này, năm nay con bao nhiêu tuổi rồi?" "Thưa lão phu nhân, con đã hai mươi ạ." "Hai mươi rồi, không còn nhỏ nữa, đến tuổi gả chồng rồi đấy." Lão phu nhân cười nhìn cô mẫu, "Cô con đã tìm được mối nào cho con chưa?"
Cô mẫu cười đáp: "Dạ vẫn chưa, Lệnh Hương mới đến, cứ để con bé làm quen với cuộc sống ở đây đã ạ." Lão phu nhân gật đầu, không nói gì thêm. Nhưng ánh mắt bà lướt qua mặt tôi một lượt, rồi dừng lại trên người Tạ Lâm Uyên đang đứng cách đó không xa, đầy ý vị sâu xa. Tôi vờ như không thấy, nhưng trong lòng dâng lên một nỗi bất an mơ hồ. Cảm giác như sắp có chuyện gì đó xảy ra.
Tối hôm đó, Thanh Đường đi đâu về, mặt mày có vẻ hốt hoảng: "Biểu tiểu thư, lúc nãy nô tỳ đi ngang qua viện của Liễu di nương, nghe thấy bên trong đang cãi nhau to lắm. Hình như... có liên quan đến người."
Tôi lặng người: "Cãi về chuyện gì?" "Nô tỳ nghe loáng thoáng Liễu di nương nói gì mà 'thân phận biểu tiểu thư', 'Thám hoa lang', 'chủ mẫu tính kế'... nghe không rõ lắm, nhưng cảm giác không phải lời hay ý đẹp gì đâu ạ."
Lòng tôi chùng xuống. Liễu di nương — người đàn bà có ánh mắt như rắn độc ấy, bà ta lại định giở trò gì đây?
Tiệc thọ của lão phu nhân được tổ chức tại chính sảnh, bày hơn mười bàn tiệc, mời toàn khách quý kinh thành. Tôi diện một bộ váy màu hoa sen ngả tím, khoác lụa trắng ngà, trên tóc cài một chiếc bộ d.a.o bạch ngọc lan, thanh nhã mà đoan trang.
Theo quy củ, tôi phải dâng quà thọ. Món quà tôi chuẩn bị là bức thêu "Bách Thọ Đồ" tự tay mình thêu suốt một tháng trời bằng kỹ thuật thêu tinh xảo nhất vùng Giang Nam. Lão phu nhân xem xong, tấm tắc khen ngợi: "Đứa trẻ ngoan, khéo tay quá, đường kim mũi chỉ này so với tú nương trong cung cũng chẳng kém cạnh." Tôi mỉm cười hành lễ: "Lão phu nhân quá khen rồi ạ."
Không khí đang lúc vui vẻ thì một giọng nói sắc lẹm vang lên: "Lão phu nhân, thiếp thân có lời muốn nói."
Mọi người đồng loạt nhìn về phía phát ra âm thanh, chính là Liễu di nương. Hôm nay bà ta mặc áo bối t.ử đỏ rực, trang điểm lộng lẫy hơn thường ngày, nhưng nụ cười trên môi lại đầy vẻ ác ý.
Lão phu nhân cau mày: "Chuyện gì?" Liễu di nương bước lên hành lễ, rồi quay sang cô mẫu, cười khẩy: "Chủ mẫu, người thật cao tay. Giấu giếm bao lâu nay, cũng đến lúc để lão phu nhân biết rồi chứ nhỉ?"
Sắc mặt cô mẫu đanh lại: "Liễu di nương, ngươi định nói gì?" "Thiếp định nói gì, trong lòng chủ mẫu chẳng lẽ không rõ sao?" Bà ta đột ngột quay ngoắt lại, chỉ tay về phía tôi đang ngồi trong góc, giọng lanh lảnh: "Lão phu nhân, vị biểu tiểu thư này thực chất là quân cờ do chủ mẫu đưa vào phủ để quyến rũ Thám hoa lang, làm thiếp hay làm kế thất cũng được, tóm lại là để nắm thóp Thám hoa lang!"
Cả sảnh đường xôn xao. Mọi ánh mắt đổ dồn về phía tôi — kinh ngạc, khinh bỉ, có cả hả hê. Tôi đứng bật dậy, mặt cắt không còn giọt m.á.u, đầu ngón tay run rẩy.
Liễu di nương vẫn tiếp tục: "Lão phu nhân nghĩ mà xem, làm gì có chuyện trùng hợp thế? Thám hoa lang vừa đỗ đạt, chủ mẫu liền đón một cô cháu gái tuyệt sắc về, chẳng phải để tiện đường hành sự sao?"
"Câm miệng!" Cô mẫu đập bàn đứng dậy, người run lên vì giận dữ: "Liễu thị, ngươi ngậm m.á.u phun người!"
"Thiếp có phun người hay không, chủ mẫu tự hiểu rõ." Liễu di nương cười lạnh, "Biểu tiểu thư ở lại đây bao lâu nay, ngày ngày gặp gỡ Thám hoa lang, nếu thực sự không có gì, ai mà tin nổi?"
Sắc mặt Tạ Lâm Uyên cũng thay đổi. Chàng định đứng dậy nói gì đó nhưng tôi đã nhanh hơn một bước. Tôi bước ra giữa sảnh, quỳ xuống trước mặt lão phu nhân, giọng nói bình thản đến lạ kỳ: "Lão phu nhân, dân nữ có lời muốn nói. Dân nữ đích thực là cháu họ xa của cô mẫu, điều này tộc phổ có thể tra, tộc nhân họ Thẩm có thể chứng thực. Cô mẫu thương xót dân nữ không nơi nương tựa mới đón về. Từ khi vào phủ, dân nữ chưa từng vượt quá khuôn phép nửa bước, hằng ngày chỉ ở trong viện thêu thùa đọc sách, chưa bao giờ có ý nghĩ không an phận. Nếu lão phu nhân không tin, có thể gọi hạ nhân trong phủ ra đối chất."
Lão phu nhân im lặng. Liễu di nương cười nhạt: "Ngươi đương nhiên nói thế rồi. Ta hỏi ngươi, ngày ngày ngươi gửi bánh ngọt cho Thám hoa lang là ý gì?"
"Đó là lễ tiết." Tôi đáp, "Dân nữ mới đến, muốn tỏ chút lòng thành nên viện nào cũng gửi. Không chỉ Thám hoa lang, mà chỗ lão phu nhân, chỗ cô mẫu đều có cả."
"Ngươi—" "Còn nữa," tôi cắt ngang lời bà ta, nhìn thẳng vào mắt bà ta: "Liễu di nương nói dân nữ được phái đến để tiếp cận Thám hoa lang, vậy bằng chứng đâu?"
Liễu di nương nghẹn lời, rồi chống chế: "Bằng chứng? Cả cái Hầu phủ này ai mà không biết Thám hoa lang ngày nào cũng chạy qua chỗ ngươi, lén lút nhìn ngươi, đó không phải bằng chứng thì là gì?"
Mặt Tạ Lâm Uyên đỏ bừng lên như gấc chín. Tôi định giải thích thì một giọng nói uy nghiêm vang lên: "Đủ rồi."
Là Tạ Hầu gia. Ông đứng dậy, nhìn Liễu di nương bằng ánh mắt lạnh lẽo: "Liễu thị, ngươi có biết tội không?" Bà ta tái mặt: "Hầu gia, thiếp..." "Người đâu, đưa nhân chứng lên."
Hai tiểu sai áp giải một bà t.ử bước vào. Bà ta vừa vào đã quỳ sụp xuống, run cầm cập khai ra toàn bộ: Chính Liễu di nương đã sai bà ta làm giả giấy tờ, tung tin đồn "mỹ nhân kế" để bôi nhọ chủ mẫu và tôi, hòng đoạt quyền quản gia.
Kết cục, Liễu di nương bị phạt gậy và đuổi khỏi phủ. Sảnh đường im phăng phắc. Cô mẫu đỡ tôi dậy, mắt đỏ hoe: "Lệnh Hương, chịu khổ cho con rồi."
Tôi lắc đầu: "Con không sao ạ." Nhưng trong lòng tôi lại trào dâng một cảm xúc cực kỳ phức tạp. Hóa ra bấy lâu nay Liễu di nương chính là kẻ đứng sau đ.â.m bị thóc chọc bị gạo. Hóa ra cái danh "mỹ nhân kế" là từ bà ta mà ra.
Tôi vô thức nhìn sang Tạ Lâm Uyên. Chàng đứng đó, lặng thinh, ánh mắt nhìn tôi trân trân đầy chấn động, hối lỗi và cả một sự sụp đổ mà tôi không tài nào hiểu hết.
Lúc này đây, đầu óc Tạ Lâm Uyên hoàn toàn trống rỗng. Chỉ có một ý nghĩ cứ dội đi dội lại: Nàng không phải gián điệp. Nàng không phải do mẹ kế phái tới. Nàng không hề quyến rũ mình.
Vậy thì... những sự đề phòng, những lần chàng coi nàng như kẻ thù, những cái liếc mắt "phòng thủ" của chàng bấy lâu nay là cái gì? Chẳng lẽ đều do chàng tự mình đa tình, tự mình thêu dệt ra sao?
Nàng đưa trà, chàng nghĩ nàng "lạt mềm buộc c.h.ặ.t". Nàng tặng bánh, chàng nghĩ nàng dùng "viên đạn bọc đường". Nàng đưa ô, chàng nghĩ nàng "dàn dựng tình cờ". Thậm chí nàng chỉ thở thôi, chàng cũng thấy nàng đang "khêu gợi".
Hóa ra, nàng chẳng làm gì cả. Nàng chỉ sống đúng mực, hành lễ đúng quy tắc. Chỉ có chàng là kẻ ngốc nghếch, tự mình diễn một vở kịch "mỹ nhân kế" trong đầu suốt nửa năm qua!
Tạ Lâm Uyên cảm thấy tối tăm mặt mũi. Chàng nhớ lại những lần mình ghen tuông, những lúc mình lén nhìn nàng, và cả... miếng ngọc bội đang nằm trong tay áo mà chàng định dùng để tỏ tình hôm nay.
Mọi rung động, mọi thao thức đêm trường của chàng đều là thật. Nhưng cái cớ "nàng là gián điệp" để chàng bao biện cho sự rung động đó — hoàn toàn là giả.
Vậy chàng là cái thá gì trong mắt nàng đây? Một kẻ điên tự luyến sao?